Cốp pha nhựa bị rỗ mặt, đúng hơn là bê tông bị rỗ sau khi tháo cốp pha nhựa, gần như luôn do 4 nguyên nhân: đầm thiếu hoặc đầm sai, mất nước xi măng qua khe ghép, hỗn hợp bê tông khô hoặc rơi tự do cao quá 1,5 m, và mặt tấm bẩn. Hai mốc đối chiếu trong bài lấy theo TCVN 4453:1995: độ gồ ghề giữa các tấm ghép nối không quá 3 mm, chiều cao rơi tự do của hỗn hợp bê tông không quá 1,5 m.

Rỗ mặt là chỗ bê tông thiếu vữa lấp kín giữa các hạt đá, để lại lỗ hổng và đá lộ ra ngoài. Mặt nhựa nhẵn không gây rỗ; điểm cần soi ở cốp pha nhựa mô-đun là số mối nối nhiều, xem thêm cấu tạo cốp pha nhựa và khóa liên kết.

Cốp pha nhựa bị rỗ mặt do những nguyên nhân nào?

Các nguyên nhân dưới đây hay đi cùng nhau, ví dụ hỗn hợp khô lại gặp đầm vội.

1. Đầm chưa đủ hoặc đầm sai cách

Bê tông vừa đổ còn nhiều bọt khí và chưa chảy kín góc, chân tường, chỗ thép dày. Đầm thiếu thì bọt khí và khoảng trống ở lại sát mặt khuôn. Dùng đầm đẩy bê tông đi ngang, đầm quá lâu một chỗ hoặc chạm đầm vào tấm thì vữa tách khỏi đá và mối nối bị xô lệch.

  • Dấu hiệu: rỗ thành mảng ở chân tường, góc khuôn, chỗ thép dày; nhiều lỗ khí li ti; vết rỗ chạy theo ranh giới giữa hai lớp đổ.
  • Cách phòng: đổ từng lớp, cắm đầm thẳng đứng, rút từ từ; đầm tới khi bê tông thôi lún, nổi nước xi măng và hết bọt khí; vách mỏng thép dày thì gõ nhẹ mặt ngoài khuôn bằng búa cao su.

2. Mất nước xi măng qua khe ghép tấm

Khe giữa hai tấm hở, khóa liên kết thiếu hoặc chưa đóng chặt thì nước xi măng bị ép ra ngoài khi đầm, phần bê tông sát khe chỉ còn cát và đá. Mép tấm lệch nhau cũng cho thấy khuôn chưa khít: Bảng 1 của TCVN 4453:1995 cho phép độ gồ ghề giữa các tấm ghép nối tối đa 3 mm.

  • Dấu hiệu: vệt rỗ, vệt cát chạy thẳng theo mép tấm thành lưới đúng kích thước tấm; gờ bậc ở mối nối; lúc đổ thấy nước xi măng rỉ ra ở khe hoặc chân khuôn.
  • Cách phòng: lắp đủ khóa theo hướng dẫn của nhà cung cấp; loại tấm sứt mép, cong vênh; chèn kín góc, chỗ bù gỗ, chân khuôn; mối nối chênh quá 3 mm thì chỉnh lại trước khi đổ. Tính đủ tấm góc và khổ tấm theo bảng kích thước cốp pha nhựa để khỏi phải chèn ván tạm.

3. Hỗn hợp bê tông khô, phân tầng hoặc rơi quá cao

Bê tông quá khô khó chảy kín khuôn dù đầm kỹ. Bê tông để lâu, trộn chưa đều hoặc rơi từ trên cao thì đá rơi xuống trước, vữa ở lại phía trên, gọi là phân tầng. TCVN 4453:1995 giới hạn chiều cao rơi tự do của hỗn hợp bê tông ở 1,5 m.

  • Dấu hiệu: đá lộ dày ở chân cấu kiện, nhất là ngay dưới chỗ đổ; phía trên nhiều vữa, có khi nổi nước.
  • Cách phòng: kiểm tra độ sụt khi nhận bê tông, không tự thêm nước tại công trường; cấu kiện cao hơn 1,5 m thì dùng máng, phễu hoặc ống mềm đưa bê tông xuống gần đáy; rải đều theo lớp, không đổ dồn một chỗ.

4. Mặt tấm bẩn, còn vữa cũ bám

Theo bảng so sánh vật liệu của Geoplast, nhựa ABS không bám dính bê tông như gỗ và thép. Nhưng vữa đọng ở mép, rãnh khóa và vết xước vẫn khô lại nếu không vệ sinh sau mỗi lần tháo, làm mặt bê tông lồi lõm và kênh mép tấm.

  • Dấu hiệu: mặt lốm đốm, bong lớp mặt khi tháo, in hình mảng vữa cũ; rác, đất lẫn ở chân tường.
  • Cách phòng: cạo vữa bằng dụng cụ nhựa hoặc gỗ ngay sau khi tháo, rửa nước, không dùng vật sắc; dọn rác và nước đọng trong khuôn trước khi đổ.
Mặt bê tông nhẵn sau khi tháo cốp pha nhựa, có lỗ khí nhỏ
Mặt tường sau tháo cốp pha nhựa: vạch mối ghép, lỗ ty và một số lỗ khí nhỏ trên bề mặt.

Nhìn vết rỗ, làm sao biết lỗi nằm ở khâu nào?

Một vết rỗ có thể mang dấu hiệu của hai nguyên nhân, khi đó cần xử lý cả hai trước lần đổ sau.

Dấu hiệu sau khi tháo khuôn Nguyên nhân thường gặp Cách xử lý
Rỗ thành mảng ở chân tường, góc khuôn Đầm thiếu, bê tông phân tầng Đổ theo lớp, đầm đủ; dùng máng hoặc ống khi rơi quá 1,5 m
Lỗ khí li ti dày đặc Đầm chưa đủ thời gian, rút đầm nhanh Đầm tới khi hết bọt khí, rút đầm từ từ
Vệt rỗ, vệt cát theo mép tấm; gờ bậc ở mối nối Mất nước xi măng qua khe; gồ ghề quá 3 mm Lắp đủ khóa, chèn kín khe, chỉnh mép, thay tấm sứt
Đá lộ ngay dưới chỗ đổ, phía trên nhiều vữa Hỗn hợp khô hoặc phân tầng, đổ dồn một chỗ Kiểm tra độ sụt, rải đều, không dùng đầm đẩy bê tông
Mặt lốm đốm, in hình mảng vữa Mặt tấm bẩn, vữa cũ bám Vệ sinh tấm sau mỗi lần tháo
Rỗ sâu, lộ cốt thép Nhiều nguyên nhân cộng lại Dừng lại, mời kỹ sư kết cấu đánh giá

Nguồn: tổng hợp theo nguyên tắc thi công chung; mốc 3 mm và 1,5 m theo TCVN 4453:1995.

Vết rỗ nông và rỗ sâu sửa thế nào?

Đục bỏ phần bê tông xốp, đá long tới lớp chắc thì mới biết vết rỗ nông hay sâu. Rỗ nông chỉ hỏng lớp mặt, chưa chạm cốt thép; rỗ sâu là khi đục vào thấy đá rời sâu bên trong hoặc lộ thép.

Sửa rỗ nông theo nguyên tắc chung:

  1. Đục sạch vữa xốp, đá lỏng, tạo mép chỗ sửa gọn.
  2. Chải bụi, rửa nước, giữ ẩm bề mặt nhưng không để đọng nước.
  3. Lấp bằng vữa xi măng cát hoặc vữa sửa chữa không co ngót theo hướng dẫn của nhà sản xuất, ép chặt vào lỗ.
  4. Xoa phẳng theo mặt xung quanh, bảo dưỡng ẩm như bê tông mới.

Rỗ sâu lộ cốt thép, rỗ ở cột, dầm, vách chịu lực hoặc rỗ xuyên qua cấu kiện thì không tự trát. Hãy báo kỹ sư kết cấu hoặc giám sát để đánh giá và chỉ định cách sửa, có thể là đục rộng, ghép khuôn đổ bù bằng vật liệu phù hợp hoặc gia cường.

Lưu ý kỹ thuật

Không trát che vết rỗ ngay khi vừa tháo cốp pha. Lớp trát làm mất dấu hiệu để đánh giá, trong khi lỗ rỗng bên trong vẫn còn và cốt thép ở đó dễ gỉ về sau. Chụp ảnh, đánh dấu vị trí, đục kiểm tra rồi mới chọn cách sửa.

Câu hỏi thường gặp

Cốp pha nhựa có làm bê tông dễ rỗ hơn cốp pha gỗ không?

Không do bản thân vật liệu nhựa. Rỗ đến từ khâu đầm, khe ghép, hỗn hợp bê tông và độ sạch của khuôn, gặp ở mọi loại cốp pha. Bảng so sánh của Geoplast xếp nhựa ABS vào nhóm cho mặt bê tông nhẵn, gỗ vào nhóm cho mặt không đều. Riêng cốp pha nhựa mô-đun có nhiều mối nối nên cần kiểm tra khóa và mép tấm kỹ hơn.

Rỗ mặt bê tông có ảnh hưởng tới khả năng chịu lực không?

Rỗ nông ở lớp mặt chủ yếu ảnh hưởng thẩm mỹ và lớp bê tông che phủ cốt thép, sửa đúng cách là ổn. Rỗ sâu, lộ thép hoặc nằm ở cột, dầm, vách chịu lực làm giảm tiết diện bê tông và khả năng bảo vệ thép. Trường hợp này cần kỹ sư kết cấu kiểm tra và chỉ định phương án sửa.

Tháo cốp pha nhựa sớm có làm bê tông bị rỗ không?

Rỗ hình thành lúc đổ và đầm, không phải lúc tháo. Tuy vậy, tháo quá sớm dễ làm sứt cạnh, bong lớp mặt, trông giống rỗ. TCVN 4453:1995 cho phép tháo cốp pha thành không chịu lực của dầm, cột, tường khi bê tông đạt cường độ trên 50 N/cm², và khi tháo phải tránh va chạm mạnh.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Gọi ngay – tư vấn miễn phí0359 380 205